|
Lê Thành Nhơn Trong Diaspora Việt Nam
Bội Trân
Người ta sẽ nhớ ǵ
về một tác giả sau khi tác giả đă qua đời? Dĩ nhiên trước hết
là tác phẩm. Đó là căn cước cụ thể trung thực chứng minh cho
tài năng. Lê Thành Nhơn thao lược từ điêu khắc, hội họa cho
đến gốm; cái nào anh cũng làm “hết ḿnh”, chữ của anh, đến nỗi
người ta có thể tin rằng, một cách dị đoan, anh đă sống hơn
một kiếp người với chừng đó tài năng; 62 năm hiện hữu của anh
là một sự cô đặc.
Người đời sẽ nhớ đến
Lê Thành Nhơn nhiều, nhiều hơn cả mức người ta có thể h́nh
dung. Anh là nhân chứng đứng ở một ngả rẽ lịch sử của Việt
Nam, và đồng thời anh là một tác nhân trong ḍng lịch sử đó.
Việc di tản của những người Việt Nam sau 1975 đă mở ra một
hiện thực mới, một Diaspora Việt Nam – cộng đồng Việt Nam tha
hương ở khắp các lục địa trên thế giới, Hoa Kỳ, Pháp hay
Australia. Diaspora Việt Nam này cho thấy sức mạnh của tính
Việt Nam, và Lê Thành Nhơn biểu lộ nó qua công việc của ḿnh.
Anh là bằng chứng rực rỡ nhất cho một Diaspora Việt Nam sống
đàng hoàng trong một nền văn hoá khác, đi vào nền văn hoá khác
bằng cổng chào. Năng lượng của một Diaspora Việt Nam ở chỗ nó
không mất đi sắc thái của ḿnh khi hội nhập vào xă hội định cư
mà c̣n làm phong phú thêm chính ḿnh và môi trường văn hoá chủ
nhà. Anh là một trong những nhân tố trong Diaspora Việt Nam,
và là nhân tố trội. Sự có mặt của Lê Thành Nhơn ở đất nước
Kangaroo này là một “fair play”; anh không những đóng
thuế như một công dân Úc, như mọi công dân khác, mà c̣n để lại
những cái đẹp ngoài sức mong đợi của miền đất cưu mang. Anh là
đối trọng của những nhân vật “ngày nào cũng ngồi chờ ăn giỗ
ở nhà mẹ” (chữ của Lê Thành Nhơn) khi nhân danh bảo vệ
truyền thống mà thực ra chỉ bào ṃn nó.
Nhưng trước hết,
người ta nhớ đến anh, v́ anh nói lên tiếng nói của con người:
ḷng tin, niềm hoan lạc, nỗi trăn trở, t́nh yêu, sự khao khát,
đam mê…
Lê Thành Nhơn làm
việc nhiều, tác phẩm của anh ở trong nhiều bộ sưu tập của
chính phủ và tư nhân khác nhau. Một màn điểm danh đầy đủ tác
phẩm của anh sẽ cần đến một công tŕnh nghiên cứu dài. Cái ǵ
đă làm nên một dấu ấn Lê Thành Nhơn, hay phong cách Lê Thành
Nhơn? Cái ǵ là mẫu số chung của những tác phẩm của anh từ
điêu khắc, gốm sang đến hội họa? Có thể có nhiều ư kiến khác
nhau. Riêng tác giả bài viết này tin rằng tính biểu tượng
(Symbolism) và sự biểu cảm (Expressiveness) là hai thành tố có
mặt trong mọi tác phẩm của Lê Thành Nhơn. Lê Thành Nhơn quí
trọng truyền thống, nhưng không “ăn mày truyền thống”
theo nghĩa sao chép những motif ngày xưa để vỗ ngực nói về một
tính Việt Nam bất biến. Anh hiểu được mỹ thuật truyền thống
cuả Việt Nam nằm trong khả năng khai thác tính biểu tượng,
việc dùng một h́nh ảnh để miêu tả căn nguyên của một sự kiện
khác, do đó khiến tác phẩm ôm ấp nhiều lớp nghĩa khác nhau.
Đồng thời mỹ thuật sẽ không c̣n là mỹ thuật nếu nó không bộc
bạch được cảm xúc và mang lại cho người ta cảm xúc. Vậy th́,
biểu tượng và biểu cảm có thể so sánh với “lư” và
“t́nh” mà người nghệ sĩ phải cân bằng khi muốn đưa tác
phẩm của ḿnh vào một cuộc đời lâu bền.
Chân dung
của
nhà soạn nhạc Hoàng Ngọc Tuấn bằng đồng được miêu tả hết sức
sinh động và đầy ngẫu hứng, giống như một bản tốc họa từ tay
một họa sĩ tài ba, hay như một snapshot của một nhiếp ảnh gia
nhà nghề. Lê Thành Nhơn giữ lại một khoảnh khắc tiêu biểu cho
cá tính của một con người. Nhà soạn nhạc của chúng ta đang
tṛn miệng say sưa hát, má tóp vào, đôi mày nhíu lại trên cái
trán vồ, hai bên trán li ti những đường gân. Chân dung Hoàng
Ngọc Tuấn là một biểu tượng cho tuổi trẻ Việt Nam sôi nổi,
người ta tưởng như nghe được nhạc của Trịnh Công Sơn đang
được hát từ bức tượng. Chất thô ráp mà Lê Thành Nhơn thể hiện
trên chân dung này ngược lại với sự phẳng phiu đường hoàng của
tượng Phật ở Canberra, nó cũng khác với tính biểu hiện trong
tác phẩm Joy đặt ở sân trường Monash. Ngoài cái
giống về diện mạo, Lê Thành Nhơn c̣n lột tả được tinh thần của
người bạn trẻ của ông, và nếu chúng ta biết rằng Lê Thành Nhơn
đă làm tượng này từ trí nhớ chỉ sau một lần gặp lại duy nhất ở
miền đất định cư. Hai nhà văn nghệ làm bạn với nhau từ ở Việt
Nam khi Lê Thành Nhơn giảng dạy tại Trường Đại Học Duyên Hải ở
Nha Trang từ 1973 cho đến 1975. Năm 1985 Hoàng Ngọc Tuấn tŕnh
diễn trong một buổi hoà nhạc ở Collingwood Town Hall tại
Melbourne, và ngạc nhiên vô cùng khi buổi diễn kết thúc, khán
giả Lê Thành Nhơn đă bước lên sân khấu ôm chầm lấy anh. Hai
người bạn cũ hội ngộ được hai ngày ở Melbourne th́ Hoàng Ngọc
Tuấn phải quay về Sydney. Chỉ hai ba tháng sau, Hoàng Ngọc
Tuấn nhận được món quà từ Lê Thành Nhơn với lời nhắn nhủ:
“Tôi đóng đinh bạn như là người ta đă đóng đinh chuá Jesus,
bạn là người duy nhất c̣n sống mà tôi làm chân dung. Bạn phải
đi cho hết con đường nghệ thuật của ḿnh”. Khi đó Hoàng
Ngọc Tuấn c̣n là một “tên Việt Nam mới định cư, cầu bơ cầu
bất” như lời anh tự nhận xét, c̣n Lê Thành Nhơn th́ đang
làm nghề bán vé trên xe điện với mức thu nhập không phải là
dồi dào cho việc đúc đồng một tác phẩm mang đi tặng bạn. Đó là
sự hào phóng của dân miền Nam mà không phải dân giàu có nào
cũng có thể sánh kịp. Đó là một lời tiên tri của một tâm hồn
nghệ sĩ lớn, thấy được sự phát triển sắp tới trên cái nền tảng
hiện hữu. Đó là sự mẫn cảm của tài năng thiên phú Lê Thành
Nhơn cộng với trí nhớ mang tính thị giác kỳ diệu của nghệ sĩ.
Một tác phẩm của Lê
Thành Nhơn nữa cũng mang đầy tính biểu tượng. Tuổi Già,
1987, trong loạt điêu khắc Sinh Lăo Bệnh Tử của
anh. Tuổi già qua tay Lê Thành Nhơn là một nhân vật chống gậy
lưng kḥm, hai yếu tố tiêu biểu cho mọi người già. Tuy nhiên
lưng kḥm biến thành một đường thẳng ngang đối lập với bước
chân xoạc dài tạo ra một đường cong. Tuổi già của anh là cái
nh́n lạc quan về quảng đường mà con người đó đă đi qua, bước
chân xoạc dài. Chiếc gậy chống tạo ra một lực để con người đó
hướng về phiá trước. Như vậy h́nh thể và đường nét được xử lư
vô cùng thích đáng và tinh tế để nói lên tinh thần nhân bản
của Lê Thành Nhơn trong nghệ thuật. Anh yêu cuộc đời và con
người biết bao để có thể cảm nhận tuổi già một cách tích cực
như vậy! Ấy vậy mà anh không có tuổi già.
Chiếc lục b́nh
Hai Bà Trưng là một tác phẩm gốm độc đáo cao
87 cm, đường kính 96 cm, thực hiện năm 1988. Phù điêu cao trải
tràn trề trên thân cái lục b́nh truyền thống kể lại lịch sử
Hai Bà Trưng cưỡi voi đuổi giặc. Những vầng mây sóng cuộn nâng
đỡ và theo đuổi những tráng sĩ cầm gươm xông pha trên lưng
ngựa, một đoàn quân ra trận khí thế oai hùng. Các nhân vật và
chi tiết phụ trồi lên trên mặt phẳng ở nhiều độ cao khác nhau
chạy tṛn theo thành b́nh làm thành một nhịp điệu dồn dập. Và
khi đưa mắt ḿnh đi theo ṿng tṛn của tác phẩm để đọc những
chi tiết ấy, người xem bất giác hiểu ra rằng lịch sử có rất
nhiều khúc quanh và nếp cuộn ẩn nấp. H́nh ảnh hai bà như h́nh
ảnh người mẹ Việt Nam, trong chiếc áo dài tha thướt nổi bật
trên thành ngoài của b́nh, như h́nh của một bà tiên hiện ra
vừa thống trị trong bố cục mà lại vừa tao nhă trong những
đường nét. Trong khi những tác phẩm gốm khác mang nhiều tính
nhục cảm th́ chiếc lục b́nh này là một bản hùng ca đầy hào khí
bằng h́nh ảnh, khối và màu sắc. Lê Thành Nhơn dùng màu da vàng
rất gốm B́nh Dương, cộng với màu xanh đồng và xanh biếc. Kỹ
thuật nung của anh tuyệt vời ở chỗ thành b́nh có độ dày lồi
lơm khác nhau nhiều, mà tuyệt nhiên không có một vết rạn xương
cốt hay men. Người ta tin rằng anh đă trải qua rất nhiều thử
nghiệm trong xưởng làm của anh tại Dandenong để có được một
tác phẩm vuông tṛn. Lê Thành Nhơn không ngại; anh bao giờ
cũng muốn “làm cho đàng hoàng” và “sống đàng hoàng”.
Bội Trân
Chú thích: Những chữ trong ngoặc kép là chữ của anh Lê Thành
Nhơn.
|