|
TIỂU SỬ:
LÊ THÀNH NHƠN
Lê Thành
Nhơn sinh ngày 17 tháng 11 năm 1940 tại Thủ Dầu Một, nằm ở
phía đông Sài G̣n. Cha là Lê Văn Nguyện và mẹ Chung Thị Duyên,
một người Việt gốc Chàm lai Trung Hoa.
Lê Thành
Nhơn say mê nghệ thuật từ nhỏ. Ông học trung học tại trường Mỹ
Nghệ Thực hành B́nh Dương, một trường chuyên về trang trí,
thiết kế đồ gỗ, đồ gốm và đặc biệt là sơn mài, nguồn cung cấp
nghệ nhân chủ yếu cho các trung tâm sơn mài nổi tiếng tại Việt
Nam như Thành Lễ và Trần Hà.
Sau đó,
Lê Thành Nhơn thi đỗ vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài G̣n Gia
Định. Năm 1963, lúc đang c̣n là sinh viên, tượng của ông đă
được tuyển chọn để tham dự cuộc triển lăm mỹ thuật quốc tế lần
thứ tư được tổ chức tại Paris. Năm sau, ông tốt nghiệp thủ
khoa ngành điêu khắc, cùng khoá với Đỗ Quang Em, một trong
những người bạn thân nhất của ông.
Tốt
nghiệp, ông về dạy học tại trường Mỹ Nghệ Thực Hành B́nh Dương.
Hai năm sau, tháng 3 năm 1966, ông bị động viên. Ông ở trong
quân đội cả thảy bốn năm, đến tháng 6 năm 1970 th́ được giải
ngũ với cấp bậc thiếu uư, sau khi bị thương nhẹ trong một cuộc
hành quân. (Nhẹ, nhưng chất ch́ trong viên đạn bắn vào người
ông, đến giữa thập niên 90, vẫn c̣n làm độc, khiến ông phải
nằm viện mấy tuần lễ!)
Ngay khi
vừa phục viên, ông được mời làm giáo sư điêu khắc tại trường
Mỹ Thuật Sài G̣n Gia Định, đồng thời làm giáo sư thỉnh giảng
tại trường Mỹ Thuật Huế. Mấy năm sau, từ năm 1973, ông được
mời giảng dạy tại trường Đại học cộng đồng Duyên Hải tại Nha
Trang. Mặc dù phải dạy học ở nhiều nơi như vậy, Lê Thành Nhơn
vẫn dành nhiều th́ giờ và tâm huyết cho công việc sáng tác.
Các sáng tác của ông thời gian này phần nhiều có kích thước
khá lớn, trong đó nổi bật nhất là bức tượng Quan Thế Âm
bằng đồng tại trung tâm Liễu Quán ở Huế cũng như bức tượng
Phan Bội Châu bằng đồng, cao đến 3,5 mét cũng tại
Huế. Bằng cement th́ có bức tượng Phật Thích Ca
hiện dựng tại trung tâm Phật học Huệ Nghiêm ở Phú Lâm, Sài G̣n,
cao đến 4,5 mét; bức tượng Phan Thanh Giảng cao
hơn 3 mét đă bị đập phá vào năm 1975, và bức tượng Thiếu
Nữ Việt Nam cao 4 mét hiện c̣n trong tư gia người nhà
của ông tại Sài G̣n.
Cuối
tháng 4 năm 1975, gia đ́nh Lê Thành Nhơn may mắn nằm trong
danh sách những người đầu tiên thoát khỏi Việt Nam. Sau mấy
tháng tạm trú ở đảo Guam, gia đ́nh ông được định cư tại Úc vào
tháng 9 cùng năm. Để mưu sinh, thoạt đầu Lê Thành Nhơn làm
nghề sơn xe trong hăng xe hơi Toyata; sau đó, ông đổi sang làm
nghề bán vé xe điện trong suốt mười năm, từ 1976 đến 1986. Năm
1987, Lê Thành Nhơn được mời dạy kiến trúc tại đại học RMIT,
Melbourne. Năm sau, nghỉ dạy, ông cùng một người bạn mở trung
tâm B́nh Dương Ceramic chuyên sản xuất các tác phẩm nghệ thuật
bằng gốm. Tác phẩm th́ đẹp nhưng hoạt động thương mại rất mực
èo uột, không mang lại lợi tức bao nhiêu. Đến năm 1996 th́ ông
nghỉ hẳn, chỉ ở nhà vẽ tranh.
Mấy chục
năm định cư tại Úc, Lê Thành Nhơn sáng tác khá nhiều. Về điêu
khắc, ông có một số tác phẩm được đúc đồng như tượng Dr
Phillip Law hiện đang bày tại đại học Monash ở
Melbourne và đại học Tasmania tại tiểu bang Tasmania, Úc;
tượng “Joy” cao khoảng 2m5 hiện dựng trước sân
trường đại học Monash (Caulfield campus), tượng “Đừng bỏ
rơi tôi tự do” hiện bày tại Panthers-Mekong Club tại
Sydney, tượng Phật Thích Ca hiện bày tại Viện
Bảo Tàng Quốc Gia Úc tại thủ đô Canberra, v.v... Về hội hoạ,
Lê Thành Nhơn có khoảng vài trăm bức tranh thuộc nhiều khổ
khác nhau, trong đó có nhiều bức có kích thước rất lớn, như
bức “Yarra River” dài 4 mét, bộ Tứ Đại
gồm bốn bức (“Đất”, “Nước”, “Gió”, “Lửa”), mỗi bức cao 2 mét
và dài 6 mét (riêng bức “Gió” dài đến 6,5 mét), v.v...
Sự nghiệp
của Lê Thành Nhơn được đánh giá rất cao. Bức tượng Phan
Bội Châu của ông được xem như một bộ phận trong quần
thể di sản văn hoá cần được bảo tồn tại Huế dưới sự bảo trợ
của Liên Hiệp Quốc. Tại Úc, Lê Thành Nhơn là một trong số ít
nghệ sĩ có tác phẩm được trưng bày vĩnh viễn tại Viện Bảo Tàng
Quốc Gia Úc cũng như Viện Bảo Tàng Di Dân tại tiểu bang
Victoria.
Vào đầu
tháng 2 năm 2002, Lê Thành Nhơn bị bệnh, được chở vào bệnh
viện, và được các bác sĩ cho biết là ông bị ung thư gan. Lê
Thành Nhơn được chở về nhà, mỗi tuần một lần vào bệnh viện để
được chữa bằng hoá liệu pháp (chemotherapy). Có lúc ông rất
lạc quan, ngỡ có thể vượt qua được căn bệnh hiểm nghèo. Tuy
nhiên đến cuối tháng 10 th́ bệnh ông đột ngột trở nặng. Lê
Thành Nhơn được chở vào Royal Melbourne Hospital vào trưa Thứ
Sáu, 1.11.2002. Đến 4giờ30 chiều Thứ Hai, ngày 4 tháng 11, th́
ông trút hơi thở cuối cùng.
Lê Thành
Nhơn ra đi, để lại một vợ và bốn con. Tất cả các con ông đều
đă trưởng thành, trong đó, người con trai thứ hai, Hưng Lê, là
một danh hài của Úc.
(Nguyễn
Hưng Quốc soạn dựa trên lời kể và một số tài liệu do Lê Thành
Nhơn cung cấp) |