|
Lê Thành Nhơn: Một nghệ sĩ lớn
HOÀNG NGỌC-TUẤN
Lời người viết:
Bài này được viết vào ngày 9 tháng 1 năm 2000, nhân cuộc triển
lăm hội hoạ Lê Thành Nhơn mệnh danh "Giao Hưởng của Âm và Sắc",
tại Turbine Gallery, Casula Powerhouse Arts Centre, Sydney.
Suốt hơn hai mươi lăm năm qua, trong số bằng hữu
nghệ sĩ người Việt, tôi chưa từng gặp ai đem đến cho tôi những
ấn tượng mạnh mẽ về sức sáng tạo như Lê Thành Nhơn. Từ những
ngày đầu tiên biết anh ở Đại Học Duyên Hải Nha Trang vào năm
1973, cho đến lần tôi xuống Melbourne thăm xưởng vẽ của anh
cuối năm ngoái, mỗi lần gặp anh là một lần tôi nhận thấy anh
như một đại thụ nẩy thêm những nhánh mới rất tinh khôi và
cường tráng, sản sinh thêm nhiều hoa trái làm tôi choáng váng
và sung sướng.
Năm ngoái, ghé thăm xưởng vẽ của anh, vừa bước vào,
tôi đă thấy ngợp cả người. Xưởng vẽ của anh tràn ngập tác phẩm
mới. Chữ "mới" tôi dùng ở đây không có nghĩa đơn giản để nói
về những tác phẩm mới được hoàn thành, mà để nói về những tác
phẩm đạt đến cái mới về mỹ học. Lê Thành Nhơn luôn luôn mới
như thế. Mỗi một bức tượng anh hoàn thành, một loạt tranh anh
đưa ra, là một bằng chứng rơ ràng về thái độ tiếp cận mới đối
với kỹ thuật thể hiện, và về sự vượt thắng cảm thức mỹ học sẵn
có của bản thân. Anh thường nói: "Như một con người, tôi yêu
thương kỷ niệm. Nhưng như một nghệ sĩ, tôi không nh́n lại
những ǵ đă làm xong ngày hôm qua."
Thực thế, như một nghệ sĩ, anh chỉ phóng ḿnh về
phía trước. Tôi thấy rơ điều này khi nh́n vào chiếc thùng rác
khổng lồ đựng chất sơn dầu cạo ra từ những bức tranh không vừa
ư của anh. Ngay cả ở tuổi 60, anh vẫn là một nghệ sĩ rất dă
man đối với chính ḿnh: anh có thể cạo bỏ hẳn một bức tranh
sau nhiều tháng miệt mài làm việc. Có lần tôi nghe anh kể bằng
một giọng hết sức thản nhiên, với lối diễn ngôn hết sức 'Lê
Thành Nhơn':
"Ông biết không, làm art là sẵn sàng đổ máu.
Chứ giỡn sao? Work, work, work, work măi. Như đánh giặc. Như
điên. Mà thấy không tới, là cạo liền. Không hề thương tiếc ǵ
cả. Tôi bỏ ra 3 tháng trời, làm việc ngày đêm cho một bức
tranh. Đi mỗi đường sketch là mỗi lần thấy... 'đă'... Anatomie.
Cuồn cuộn. Cuồn cuộn. Rồi lên màu. Từng mảng, từng mảng dày
cộm. Đói. Mệt. Nhức xương. Ngày rồi đêm. Đêm rồi ngày. Như
điên. Khi màu lên tới mức, là xong. Tôi để đó, đóng cửa xưởng,
đi nhậu để tự thưởng. 'Đă' lắm... Tôi chơi ḷng ṿng vài ngày
cho giăn gân, rồi quay lại xưởng để xem lại ra sao. Ông biết
không, vừa mở cửa bước vô là tôi chới với liền. Trên bức tranh
của tôi, linh hồn Michelangelo chui ra, nhe răng cười. Toàn là
ám ảnh Michelangelo. Chỗ cuồn cuộn này là hồn ông ấy. Chỗ cuồn
cuộn kia là bắp thịt ông ấy. Michelangelo. Michelangelo. Suốt
3 tháng trời quá 'đă' như thế, mà Michelangelo chui lổn ngổn
vào hồi nào không biết. Thế là tôi đè cổ ra mà cạo. Cạo sạch
trơn. Rồi phết trắng lên như mới. Rồi làm lại. Vậy đó. Rồi lại
3 tháng nữa. Work, work, work. Như điên. Rồi Picasso, Klee,
Miro... tḥ ngón tay ra chỗ này, tḥ ngón chân ra chỗ nọ...
Lại chới với. Lại cạo. Lại tô trắng. Lại 3 tháng nữa..."
Quả vậy, có những bức tranh Lê Thành Nhơn vẽ 9
tháng mới xong, với không biết bao nhiêu sơn dầu cạo bỏ. Anh
đi t́m tiếng nói của chính ḿnh. "Nói qua giọng người khác,
dù có hay cách mấy, cũng vô ích", anh tuyên bố như thế.
Bức Tứ Đại, gồm 4 phần: Đất, Nước, Gió, Lửa
(bằng sơn dầu, cao 2 mét, dài 24 mét) anh thực hiện từ năm
1994 đến đầu năm 1999 mới hoàn tất. Đó là một công tŕnh to
lớn làm người xem ngộp thở. Lặng lẽ và cẩn thận quan sát từng
chi tiết trong tác phẩm đồ sộ này, người xem mới có thể cảm
thấu được ư nghĩa của chữ "kỳ công".
Nhưng không phải lúc nào Lê Thành Nhơn cũng đối xử
dă man với chính ḿnh như vậy. Có những lúc anh được hưởng cái
ân huệ lạ lùng để chỉ trong vài ngày đă kết thúc một tác phẩm
hoàn mỹ. Ân huệ đó đem đến cho anh những bức tranh khổ vừa (mỗi
bề từ 1 mét đến 1 mét rưỡi). Anh liên tục hưởng những ân huệ
như vậy suốt trong thời gian làm một công tŕnh đồ sộ. Đó là
lư do tại sao chúng ta có thể thấy bao giờ bên cạnh một tác
phẩm đại quy mô, anh cũng có một loạt tác phẩm khổ vừa vô cùng
đặc sắc. Tôi luôn luôn thấy trong xưởng vẽ của anh có một vài
bức sắp hoàn thành. Anh giải thích, khôi hài một cách tự nhiên:
"Tôi không bao giờ thực sự nghỉ tay trong giờ
làm việc. Nghỉ tay ở bức này nghĩa là quay sang bức khác. Có
những bức đă chín tới, chỉ cần đưa thêm một nhát cuối cùng là
xong. Nhưng tôi nghỉ tay, v́ nhát cuối cùng là nhát quyết định.
Hỏng một chút là vào sọt rác ngay. Tôi cứ để đó cho nó chín
hết mức. Tôi quay sang làm việc trên những bức khác. Một lúc
nào đó, tôi trở lại với nó. Đưa một nhát. Xong. Nếu không, th́...
treo cổ lên."
Lê Thành Nhơn là một nghệ sĩ thực sự lớn. Có tác
phẩm triển lăm nhiều nơi trên thế giới chưa phải đă lớn. Anh
đă triển lăm như thế quá nhiều. Lớn, khi chúng ta nh́n vào
những thành tựu của anh, những thành tựu nhất định sẽ được bảo
tồn rất dài lâu và gắn liền với lịch sử: tượng đồng chân dung
Phan Bội Châu (nặng 10 tấn, cao 4 mét rưỡi, ngang 6 mét,
sâu 5 mét), hoàn thành năm 1969, hiện đang toạ lạc tại Bến Ngự,
đă được UNESCO đưa vào danh sách World Cultural Heritage (Di
Sản Văn Hoá Thế Giới); tượng Thích Ca (cao 4 mét rưỡi),
hiện đang toạ lạc trong khuôn viên Phật Học Viện Huệ Nghiêm;
tượng đồng Joy (cao 2 mét rưỡi) trong khuôn viên Viện
Đại Học Monash; tượng đồng Phillip Laws ở Viện Bảo Tàng
Antartica; tượng đồng Đức Phật ở Viện Bảo Tàng Nghệ
Thuật Quốc Gia Úc, Canberra, v.v...
Quả là lớn. Tuy nhiên, tôi c̣n muốn nghĩ đến chữ "lớn"
trong vài ư nghĩa khác.
Lớn, trước hết là ở quy mô của những công tŕnh.
Từ những ngày đầu gặp anh ở Đại Học Duyên Hải Nha Trang, tôi
đă trực tiếp thấy điều này. Năm 1973, khi trường vừa được
chuyển giao một ngọn đồi bát ngát ở Rù Ŕ để thành lập thêm
một campus mới, anh đă đưa ra ngay ư tưởng xây dựng một chiếc
cổng đồ sộ với h́nh tượng đôi bàn chân Giao Chỉ khổng lồ. Rồi
anh đưa ra kế hoạch trồng một hàng phượng trải dài suốt cả
ngọn đồi. Rủi thay, dự án đôi bàn chân Giao Chỉ chưa hoàn
thành th́ đất nước đă tan hoang. Anh cùng gia đ́nh tỵ nạn sang
Úc. Tôi ở lại với những ngày tháng lang thang và tù ngục. Năm
1983, khi vừa ở trại cải tạo A.30 về, tôi đi ngang qua ngọn
đồi ấy. Mười năm đă qua, một hàng phượng vững vàng vươn lên và
đỏ rực hoa trên ngọn đồi bỏ hoang làm tôi rơi nước mắt.
Vâng. Lớn, trước hết là ở quy mô của những công
tŕnh. Anh không ngừng nhắm đến những công tŕnh đồ sộ. Tượng
đồ sộ, tranh đồ sộ, hết công tŕnh này đến công tŕnh khác, cứ
thế. Từ những ngày đầu anh đặt chân lên đất Úc vào năm 1975,
với bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống, anh đă
thực hiện ngay những công tŕnh đồ sộ. Lúc ấy, vừa quần quật
với áo cơm như một người thợ sơn xe hơi, anh đă hoàn thành
ngay trong năm 1975 một bức tranh sơn dầu dài 7 mét có nhan đề
Nước Tôi, Dân Tôi. Gần đây nhất, cuối năm 1999, anh đi
Monaco 3 tháng, và ở đó anh đă hoàn thành tác phẩm hoàng tráng
Bài ca của Đá và Ô-liu, một bố cục dài 130 mét, kết hợp
4 ngàn tấn đá và những rễ cây ô-liu già hơn 300 năm.
Lớn, kế đến là ở chủ đề tư tưởng. Về con người,
anh xây dựng tác phẩm từ h́nh tượng của Đức Phật, Mẹ Maria,
Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Mẹ Việt Nam, Phan Bội Châu... Về sự
vật, anh để tư duy sáng tạo chụp bắt h́nh ảnh của vũ trụ, của
đất, nước, gió, lửa, bầu trời... Về vấn đề của đời sống, anh
tập trung vào sinh, lăo, bệnh, tử, dân tộc, nhân quyền, tự do,
hoà b́nh...
Lớn, kế đến là số lượng tác phẩm. Tôi chưa hỏi anh
tổng cộng bao nhiêu tác phẩm anh đă hoàn thành, nhưng trong
suốt mười lăm năm tới lui với anh ở Úc, tôi luôn luôn bị
choáng ngợp v́ số lượng ngồn ngộn của những tác phẩm mới. Hàng
dăy, hàng loạt, từ tượng đồng, tượng thạch cao, tượng đá,
tượng kim loại, đến tranh sơn dầu, tranh màu nước, tranh ch́
than, tranh lụa, đến đồ gốm, thiết kế kiến trúc...
Tôi hỏi anh tại sao anh luôn nghĩ đến những đề tài
lớn, kích thước lớn. Anh đáp rằng anh không thể nghĩ khác, v́
anh bị ám ảnh bởi tầm lan xa của chiếc trống đồng, bởi chiều
dài của dăy Trường Sơn, bởi ḍng nước vĩ đại của Cửu Long
Giang, và bởi những kiến trúc uy nghi của những tháp Chàm rải
dọc suốt miền Trung vào miền Nam, nơi anh ra đời và lớn lên.
Anh là một nghệ sĩ lớn. Hẳn ai cũng công nhận như
thế. Nhưng theo tôi, cái lớn nhất của anh vẫn không phải ở
những công tŕnh quy mô lớn có giá trị lịch sử, ở đề tài lớn,
hay ở số lượng tác phẩm lớn. Cái lớn nhất của anh ở ư chí sáng
tạo. Chính cái lớn này làm sinh ra tất cả những cái lớn kia.
Thực vậy, không một thử thách nào của đời sống
khuất phục nổi ư chí ấy. Dù khi anh đang làm một giáo sư bận
rộn ở Việt Nam (Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài G̣n, Cao Đẳng Mỹ Thuật
Huế, Đại Học Duyên Hải Nha Trang) hay ở Úc (Học Viện Kỹ Thuật
Hoàng Gia Melbourne), hay khi anh đang làm một người thợ sơn
xe với đồng lương nhỏ bé ở hăng Ford để nuôi bốn đứa con, hay
anh đang làm một người bán vé xe tram chịu đựng những lời chửi
rủa và những quả đấm của bọn kỳ thị chủng tộc khiến anh đổ máu
và ngă gục trên mặt đường Melbourne, anh vẫn không hề đưa ra
một lư do nào để tự cho phép ḿnh tạm ngưng sáng tạo. Thậm chí,
trong những thời gian khó khăn chật vật nhất, anh vẫn thong
thả và rộng lượng hiến tặng nhiều tác phẩm mang mồ hôi, máu và
nước mắt của ḿnh để gây quỹ cho những công cuộc cứu người
vượt biển, cứu nạn lụt, cứu thảm nạn Kosovo, xây cất chùa
chiền và trường học. Rồi anh tiếp tục sáng tạo. Khắc khe với
chính ư tưởng ḿnh, dă man với chính thể xác ḿnh, kiên nhẫn
cùng cực, chịu đựng cùng cực để thai nghén và sản sinh những
tác phẩm đầy sáng tạo, không ngừng.
Lê Thành Nhơn là một nghệ sĩ lớn. Thực sự lớn. Một
độ lớn khác thường của sức sống, của niềm yêu thương và của sự
bền bĩ. Một độ lớn không ngừng làm nẩy sinh nhiều hoa trái
khiến chúng ta choáng váng và sung sướng.
Hoàng Ngọc-Tuấn
Sydney, 9/01/2000 |