|
PHỎNG VẤN LÊ THÀNH NHƠN
Minh Nguyệt
thực hiện
Minh Nguyệt:
Thưa anh Lê Thành Nhơn, thay v́ hỏi tiểu sử của anh như
thường lệ, MN xin hỏi ngay vào con đường dẫn anh đến với nghệ
thuật. Anh có nhớ là anh đă đi vào hoạt động vẽ tranh và dựng
tượng như thế nào không?
Lê Thành Nhơn:
Sau khi học xong trung học, tôi theo học ngành hội họa tại
trường Mỹ thuật B́nh Dương. Mấy năm sau, tôi chuyển sang học
tại trường Cao đẳng Mỹ thuật ở Sài G̣n. Năm 1963, khi đang học
năm thứ hai, tôi có làm một pho tượng bằng đồng, được Việt Nam
gửi đi triển lăm ở Paris. Sau khi tốt nghiệp thủ khoa ngành
điêu khắc, tôi được bổ về dạy học tại tỉnh B́nh Dương. Một
thời gian sau, tôi bị động viên. Trong thời gian 5 năm ở trong
quân đội, tôi không có cơ hội nào để làm công việc nghệ thuật
cả. Sau đó, tôi bị thương, được giải ngũ.
Bức tượng đầu tiên tôi làm sau khi rời khỏi quân đội nhận được
huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật và hiện nay được lưu
trữ tại Viện Bảo tàng Quốc gia tại Sài G̣n. Liên tiếp sau đó,
tôi có nhiều công tŕnh mỹ thuật khác như tượng Phật Thích Ca
hiện đang đặt tại chùa Huệ Nghiêm. Sau đó, tôi dạy học tại
trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài G̣n và trường Cao đẳng Mỹ thuật
Huế. Trong những ngày dạy học ở Huế, tôi thực hiện được pho
tượng Phan Bội Châu (năm 1973).
MN:
Xin anh nói thêm về bức tượng Phan Bội Châu một chút. Cơ
duyên nào thúc đẩy anh đi đến quyết định tạc bức tượng này?
LTN:
Khi nhắc đến năm 1972, tất cả người Việt Nam đều nhớ tới mùa
hè đỏ lửa, khi những người dân ở Huế phải chịu cảnh đau khổ,
lầm than. Gần đến Tết, tôi đang sửa soạn về Sài G̣n th́ anh
Bửu Ư, một người bạn của tôi, đến thăm và hỏi: "Bây giờ anh về
sao?". Tôi im lặng không trả lời. Sau đó, anh Bửu Ư rủ tôi lên
chùa Thiên Mụ. Khi đứng trên tầng cao nhất của chùa Thiên Mụ
nh́n ra sông Hương, anh Bửu Ư khuyên tôi ở lại chơi, làm cái
ǵ cho vui Huế một chút. Tôi quyết định ở lại, thực hiện bức
tượng Phan Bội Châu trong suốt năm đó.
Trong những ngày thực hiện pho tượng này, tôi có quen với kỹ
sư Hồ Đăng Lễ, trưởng khu Công chánh Thừa Thiên. Anh chở đến
cho tôi 20 tấn đất và một núi thanh sắt. Sau đó, tôi nhờ anh
em sinh viên cột những thanh sắt đó lại, nhờ vậy tôi có một
cái sườn to, cao 4 thước rưỡi, chiều ngang 6 thước và sâu 5
thước. Và từ cái sườn đó tôi đắp 20 tấn đất lên. Như vậy, bức
tượng Phan Bội Châu không phải là công tŕnh của cá nhân tôi
mà là một công tŕnh tập thể của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ
thuật Huế, sinh viên các trường đại học ở ngoại thành, cũng
như giáo chức và các em học sinh một trường tiểu học nhân một
chuyến vào thăm Đại nội. Không khí chung quanh khu làm tượng
trở nên dập d́u hẳn lên với những tà áo sinh viên
Khi tượng Phan Bội Châu được thực hiện xong bằng đất, ai cũng
mong muốn bức tượng được tồn tại lâu dài với thời gian bằng
một chất liệu nào chắc chắn hơn một chút. Lúc bấy giờ, một anh
kỹ sư làm việc trong chương tŕnh khuếch trương tại Huế có đề
nghị với tôi, sẽ hỏi xin tiền của người Mỹ để đúc tượng Phan
Bội Châu bằng đồng. Tôi đă thẳng thắn từ chối.
Sau đó, luật sư Phan Duy Tuệ khi ra khánh thành toà án ở Quảng
Trị, có gặp Trịnh Công Sơn tại Huế. Anh Trịnh Công Sơn hỏi
Phan Duy Tuệ có cách ǵ để giúp đúc đồng tượng Phan Bội Châu
không. Phan Duy Tuệ cho biết là có thể nhờ cha anh là phó Thủ
tướng Phan Quang Đán. Sau khi chúng tôi đến gặp ông Phan Quang
Đán, ông quyết định bán kho xi măng phế thải của Đà Nẵng để
giúp chúng tôi đúc tượng Phan Bội Châu bằng đồng. Ngoài ra,
một ông cậu ở Paris của tôi cũng có vận động kiều bào gửi tiền
về giúp. Như vậy, việc tượng Phan Bội Châu được đúc đồng chính
là công tŕnh của nhiều người chứ không phải của riêng
tôi.
MN:
Vừa rồi, anh có nhắc đến "mùa hè đỏ lửa", đến cuộc chiến
tranh tàn khốc và kéo dài ở Việt Nam. Anh có nghĩ là những
biến động chính trị và xă hội ấy có ảnh hưởng đến sáng tác của
anh không
LTN:
Có chứ. Sau hai cuộc thế chiến, con người trải qua những
chuyện bán buôn nô lệ, chuyện kỳ thị chủng tộc, chuyện viễn
chinh đô hộ tàn sát sinh linh nơi các thuộc địa, những chuyện
ở trại tập trung Auschwitz, nơi những người Do Thái bị lột
trần truồng, bị cạo đầu đưa vào ḷ hơi ngạt.
Riêng cá nhân tôi, tôi sinh năm 1940, năm thế chiến thứ hai
bắt đầu. Tại Việt Nam, Nhật đuổi Tây, rồi Tây trở lại đuổi
Nhật ra, rồi hai triệu người Việt chết đói tại miền Bắc. Ở
miền Nam, trên những đường phố, từng xâu người phù thủng bị
trói tréo tay bằng dây điện, đầu cạo trọc lầm lũi đi qua những
phố chợ hàng ngày. Dưới các ḍng sông, chơng śnh trương trôi
lềnh bềnh. Đêm đêm tiếng thùng thiếc và mơ đánh rền lên từ xóm
trên đến xóm dưới. Trên những vách tường đổ nát với máu khô
c̣n đầy, truyền đơn khẩu hiệu dán đủ màu... Trong những biến
chuyển đó, sự sáng tạo của người nghệ sĩ cũng phải thay đổi
theo thời đại.
Khi c̣n ở Việt Nam, tôi rất cảm màu cánh gián của sơn mài, màu
chói của xa cừ, những màu vàng rây bạc phủ đă ăn sâu từ lâu
trong máu ḿnh. Rồi khi lớn lên trong những đồi đá, màu đất,
những gịng sông, con suối, ngôi làng mạc của ḿnh trải qua
cuộc chiến tranh, tôi sáng tạo theo sự suy nghĩ và t́nh cảm
liên quan đến hoàn cảnh của đất nước. Ra nước ngoài, với hoàn
cảnh xă hội hoàn toàn khác hẳn, được tự do tuyệt đối, từ đó
dần dần con người tôi biến đổi và khoáng đạt hơn. Tất cả quan
niệm sáng tạo, ư thức sáng tạo cũng như phương cách làm việc
của tôi cũng thay đổi.
MN:
Anh sang định cư ở Úc từ năm 1975. Hoàn cảnh sống và làm
việc ở Úc chắc chắn rất khác với Việt Nam. Theo anh nó khác
như thế nào? Nó có những thuận lợi và những khó khăn ǵ?
LTN:
Khi đặt chân đến Melbourne, tôi phải đi sơn xe hơi, phải đi
bán vé trên tàu điện, phải làm vất vả trong các factories để
bảo đảm cho cuộc sống thực tế hàng ngày. Riêng vấn đề làm nghệ
thuật không phải chỉ một ngày một bữa, không phải chỉ qua đêm
mà có thể thành công được, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tại
quê nhà hay ở nước ngoài. Ở nước ngoài, vấn đề càng khó khăn
hơn. V́ tất cả mọi thứ đều mới: đời sống mới, tâm t́nh mới,
con người mới, ngôn ngữ mới. Khi bước vào một thế giới xa lạ
như vậy th́ vấn đề t́m lại sự quân b́nh đ̣i hỏi phải có thời
gian.
C̣n những thuận lợi
th́ như thế này. Ở bên này, ḿnh sống chung trong xă hội với
nhiều nghệ sĩ của các quốc gia khác nhau. Ḿnh chia xẻ được
với họ rất nhiều: những người nghệ sĩ ai cũng yêu những sự
sáng tạo mới. Sự cuồng nhiệt này tạo nên những biến chuyển cực
kỳ nhanh chóng, từ đó làm cho ḿnh hết sức phấn khởi, hăng say
t́m đến những cái ǵ mới và lạ cho công việc sáng tạo của
ḿnh.
MN:
Tháng 12 (1998), anh có cuộc triển lăm mới tại thành phố
Melbourne. Cuộc triển lăm có tên là Eden. Tại sao là Eden?
LTN:
Eden ở đây không phải là vườn địa đàng mà chỉ là một niềm vui
trọn vẹn. Trong cuộc triển lăm này tôi cho trưng bày 30 bức
tranh sơn dầu với màu sắc tươi vui, với hai trạng thái t́nh
cảm cực kỳ lạ lùng, đối ngược, như âm với dương. Đó là những
ấn tượng của hai khoảng thời gian đặc biệt của vùng đất tại
Nam bán cầu này. Mùa đông ở đây có những ngày quá ngắn, sương
mù dày đặc và gió rất lạnh. Ba giờ chiều trời đă tối mịt, cho
nên, để có thể làm việc được nhiều, tôi phải rời nhà từ rất
sớm. Lái xe trên đường sương mù thật là một kỳ thú. Có khi
không thể nh́n thấy ǵ ngoài một quăng đường trước mắt. Những
lúc đó, nghe tiếng chim đập th́ tôi biết ḿnh đang băng ngang
một cánh rừng. Trong những làn sương trắng lờ nhờ chuyển động,
tôi có cảm tưởng như nh́n thấy những nàng kiều nữ đang cựa
ḿnh. C̣n vào mùa hè th́ ngày lại quá dài, 5 giờ sáng mặt trời
đă mọc; 9 giờ tối, mặt trời c̣n chưa chịu lặn. Ánh sáng mặt
trời chói lọi xuyên qua các tường kính, phản chiếu lại như
thuỷ tinh đang nóng chảy trong ḷ. Các bóng cây dài lê thê như
loài khủng long băng qua xa lộ, mây giăng óng ả có h́nh như
cánh chim phượng hoàng bay theo mỗi buổi chiều trên đường về
nhà tôi.
Ngày ngày đi trên
con đường vạn sắc như vậy, tôi vẽ rất nhiều tranh về bóng mặt
trời và sương mù. Và tôi rất yêu những ngày nhập nhằng, khi
quá ngắn, khi quá dài và bốn mùa tới lui bất ngờ ở đây.
MN:
Xin cám ơn anh Lê Thành Nhơn.
(Đây
chỉ là một phần của cuộc chuyện tṛ khá dài giữa Lê Thành Nhơn
và Minh Nguyệt, đă được phát thanh trong chương tŕnh Việt ngữ
của đài Radio Australia vào cuối tháng 12 năm 1998 và đầu
tháng 1 năm 1999. |