|
ẤN TƯỢNG LÊ THÀNH NHƠN
Nguyễn Hưng Quốc
Điều
tôi thích nhất ở Lê Thành Nhơn là sự say mê của anh đối với
những cái lớn lao và hùng vĩ. Làm ǵ Lê Thành Nhơn cũng muốn
làm thật lớn. Tranh, anh thích vẽ những bức mỗi bề hai thước.
Vẫn chưa thoả măn. Lâu lâu có chút tiền đủ để mua sơn và mua
bố, anh tăng kích thước các bức tranh lên: chiều cao hai thước,
c̣n chiều dài th́ ba hay bốn thước, tuỳ. Cũng vẫn chưa thoả
măn. Khoảng giữa thập niên 90, Lê Thành Nhơn dùng toàn bộ số
tiền hưu trí mà anh dành dụm suốt mười mấy năm làm việc tận
tuỵ, phần lớn là lao động chân tay, tại Úc để mua sơn và bố vẽ
bộ Tứ Đại gồm bốn bức, “Gió”, “Nước”, “Lửa” và “Đất”, mỗi bức
cao hai thước và dài sáu thước. Tổng cộng, cả bộ Tứ Đại dài 24
thước.
Tôi nhớ,
lần ấy, tôi đă t́m cách ngăn Lê Thành Nhơn. Tôi lư luận là
những bức tranh như thế không những không bán được mà c̣n
không thể bày được ngay cả ở các galleries b́nh thường. Lê
Thành Nhơn nghe tôi nói xong, trầm ngâm một chút, rồi đáp:
“Tôi
biết. Nhưng nói thực là vẽ tranh nhỏ, tôi không thấy ‘đă’. Với
lại, chơi với tôi mấy năm nay, ông thấy đó, vẽ nhỏ tôi bán
cũng không được bao nhiêu... Nhỏ hay lớn đều không bán được.
Thôi th́, cứ vẽ thật lớn cho nó... đă tay.”
Đầu năm
2002, khi bắt đầu ngă bệnh, Lê Thành Nhơn hay mơ ước một ngày
nào đó, khoẻ lại, anh sẽ bắt tay thực hiện một khu vườn mỹ
thuật, ở đó, anh sẽ dựng những tác phẩm điêu khắc thật lớn.
Thú thực, bị ám ảnh bởi căn bệnh ung thư của anh, tôi không
tin là sẽ có một ngày như thế. Tuy nhiên, để nuôi dưỡng sự lạc
quan ở anh, tôi cũng bàn vào, ra vẻ rất hào hứng. Tôi khuyên
anh, sau cơn bệnh ngặt nghèo, c̣n yếu, nên tập trung vào việc
vẽ tranh hơn là làm điêu khắc. Anh phản đối:
“Vẽ
tranh th́ tôi cũng thích nhưng thực bụng mà nói th́ vẽ tranh
không ‘đă’ bằng làm điêu khắc. Làm điêu khắc, ḿnh có cảm giác
như đụng được vào sự đồ sộ, sự to tát một cách cụ thể và trực
tiếp hơn là vẽ tranh.”
Say mê
điêu khắc là thế, nhưng sự nghiệp chính của Lê Thành Nhơn
trong mấy chục năm định cư tại Úc, theo tôi, là hội hoạ chứ
không phải là điêu khắc. Đă đành anh có một số tác phẩm điêu
khắc được dựng và bày ở những nơi đầy uy tín như Viện Bảo Tàng
Quốc Gia Úc, Viện Bảo Tàng Di Dân tiểu bang Victoria, trường
đại học Monash ở thành phố Melbourne, trường đại học Tasmania
ở tiểu bang Tasmania. Đành vậy. Nhưng rơ ràng là số lượng
không nhiều so với thời gian anh định cư tại Úc: 27 năm. Nhớ,
ngày xưa, ở Việt Nam, chỉ trong ṿng năm năm, từ 1970, lúc anh
giải ngũ đến năm 1975, lúc anh di tản, anh làm được biết bao
nhiêu công tŕnh. Mà công tŕnh nào cũng đồ sộ. Ở Huế và ở Sài
G̣n. Điều này, thật ra, không có ǵ là khó hiểu: để làm điêu
khắc, người ta cần nhiều điều kiện vật chất hơn là hội hoạ.
Những điều kiện ấy hầu như vượt ra ngoài khả năng của một cá
nhân: không phải chỉ cần có đủ tiền để đúc (chất liệu thường
là đồng) mà c̣n cần một không gian rộng răi và thích hợp để
dựng. Đáp ứng được các điều kiện đó thường là các cơ quan
chính phủ, các tổ chức tôn giáo hay cộng đồng. Tại Úc, tôi
biết thỉnh thoảng có một số ngôi chùa hay các trung tâm sinh
hoạt cộng đồng muốn dựng một công tŕnh điêu khắc hay thiết kế
của Lê Thành Nhơn. Nhưng ngân sách của họ thường có giới hạn,
phần lớn được h́nh thành bằng con đường quyên góp từ năm này
qua năm khác. Dường như chưa bao giờ Lê Thành Nhơn ư thức được
những giới hạn này: các đồ án anh đưa ra bao giờ cũng nhiều
gấp năm, gấp mười ngân sách mà người ta có thể có. Chùa phải
thật mênh mông, ở đó, mỗi cái cột phải là một tác phẩm điêu
khắc tuyệt hảo. Tượng Phật phải cao năm, bảy thước và phải đúc....
đồng. Có dự án trong đó bức tượng Phật cao đến 25 thước. Những
phác hoạ như thế, ai cũng khen đẹp. Nhưng ai cũng lắc đầu quầy
quậy. Các giấc mộng lớn của Lê Thành Nhơn cứ nằm măi trên
trang giấy.
Ít khi
có dịp làm điêu khắc được th́ anh vẽ tranh. Số lượng tranh của
Lê Thành Nhơn trong mấy chục năm ở Úc có lẽ lên đến hàng trăm
bức. Bức nào cũng có vẻ như một công tŕnh điêu khắc: sơn thật
dày, quánh lại từng tảng, lởm chởm trên khung bố. Nhiều bức,
nh́n nghiêng, trông như một bức phù điêu được đắp nổi bằng sơn
dầu. Mà có lẽ Lê Thành Nhơn vẽ tranh trong tâm thức của một
người đang đắp phù điêu: anh chỉ muốn tác phẩm của ḿnh phủ
đầy lên các bức tường. Phần lớn các tranh của anh có kích
thước hai thước trên hai thước không chừng là v́ thế. Khi anh
vung tay vẽ các bức dài đến bốn, năm, hay sáu thước, tôi đoán,
không chừng anh đang nghĩ đến các bức tường mênh mông trong
các viện bảo tàng. Khi tôi đem điều đó hỏi anh, anh chỉ cười.
Có hơi chút bẽn lẽn.
Sau năm
1975, hội hoạ của Lê Thành Nhơn không những phong phú mà c̣n,
theo tôi, đa dạng hơn hẳn điêu khắc. Tượng của anh ít thay đổi.
Trừ các bức tượng đá anh chạm trong nhà một người bà con ở
Paris vào giữa thập niên 1990, các bức tượng khác của Lê Thành
đều có h́nh thể khá rơ ràng và, nói chung, khá cổ điển. Đẹp.
Nhưng đó là những cái đẹp khá cổ điển. Tranh của Lê Thành Nhơn
th́ khác. Anh đi từ h́nh thể đến phi h́nh thể. Càng về sau anh
càng có khuynh hướng vẽ tranh phi h́nh thể. Và, h́nh như, vẽ
đẹp. Tôi muốn nói, nếu đừng v́ quá dè dặt: tuyệt đẹp.
Mà thôi.
Tôi không định phê b́nh tranh hay tượng của Lê Thành Nhơn. Tôi
chỉ muốn dừng lại ở một ấn tượng nổi bật nhất mà Lê Thành Nhơn
để lại trong tôi sau hơn mười năm chơi với nhau khá thân, gặp
gỡ nhau thường xuyên hàng tháng, hay có thời gian, hàng tuần.
Đó là ấn tượng về nỗi đam mê nồng nhiệt đối với những cái lớn
lao và hùng vĩ. Kể cả trong những cơn đau đớn.
Vâng,
ngay khi bị đau, Lê Thành Nhơn cũng thích những cơn đau lớn.
Những cơn đau có thể cắt đứt sự sống của anh. Tôi nhớ lần cuối
cùng tôi nói chuyện dông dài với Lê Thành Nhơn trước khi anh
ngă bệnh nặng là vào chiều chủ nhật, ngày 27 tháng 10, 2002,
tức hơn một tuần trước khi anh qua đời. Lúc ngồi nói chuyện
với hai vợ chồng tôi, thỉnh thoảng Lê Thành Nhơn hơi hơi ưỡn
ḿnh ra đằng trước và lấy tay xoa xoa trên bụng. Tôi hỏi:
“Đau hả?”
Anh gật đầu. Tôi lại hỏi:
“Đau sao?”
Anh đáp:
“Thường th́ đau râm ran nhưng lâu lâu ‘ảnh’ chơi cho một cú
điếng cả người.”
‘Ảnh’
mà Lê Thành Nhơn nói ở đây là cái khối ung thư đang nằm trong
lá gan của anh. Nói xong, Lê Thành Nhơn cười. Tôi lúng túng
không biết phản ứng làm sao trước tiếng cười của anh th́ anh
lại nói tiếp:
“Thấy
‘ảnh’ làm dữ như vậy, tôi mừng lắm, ông ạ.”
Tôi ngạc nhiên hỏi: “Sao vậy?” th́ anh ung dung trả lời:
“Mỗi lần đau dữ như vậy th́ tôi biết là tôi đi nhanh lắm.”
Nói
xong, anh lại cười. Thú thực, lúc ấy, tôi ngồi lặng người,
không biết phản ứng ra làm sao cả. Cười theo bạn th́ thấy bất
nhẫn, nhưng t́m cách an ủi bạn th́ lại thấy là vô duyên. Tôi
lúng túng quay sang nh́n vợ tôi: vợ tôi quay mặt ngó ra ngoài
cửa sổ.
Ngoài
ấy, chạy dọc theo bờ rào, mấy bóng cây đang lao xao nắng. H́nh
như gió rất to.
Nguyễn
Hưng Quốc
Melbourne ngày 6.11.2002 |