Chương
trình Trợ cấp Dược phẩm (Pharmaceutical Benefits Scheme gọi
tắc là CTTCDP) bắt đầu năm 1950 tại Úc nhằm giúp dân chúng
có đủ thuốc thang khi lâm bệnh. Với thời gian, CTTCDP không
những cung cấp các loại thuốc chủ yếu mà còn nhắm vào các
loại thuốc hay, với một giá vừa với túi tiền mọi người. Theo
chương trình nầy, chính phủ đứng ra chọn mua các loại thuốc
thông dụng cần thiết và bán lại cho dân chúng với một giá rẻ
hơn tùy điều kiện kinh tế của người dùng và do nhờ mua với
số lượng nhiều, giá chính phủ phải trả cho các dược phòng
thường rẻ hơn phân nửa giá thị trường thế giới.
Trên bình
diện xã hội CTTCDP quả thật rất hiệu quả nhưng đối với những
người có trách nhiệm cân bằng cán cân ngân sách của nhà
nước, đây là một trong những vấn đề nhức óc. Trong tài khóa
2001-02, chính phủ phải chi trên 5 tỉ Úc kim cho chương
trình nầy. Số lượng thuốc tăng trung bình 6% mỗi năm trong
khi ngân sách của chương trình tăng gần 12% vì các loại
thuốc mới thường rất đắc tiền. Thí dụ như chính phủ phải trả
83,39 Úc kim cho mỗi toa thuốc Atorvastatin làm hạ chất mỡ
(cholesterol) trong máu, những người hưu trí, cựu quân nhân,
không có việc làm chỉ trả 3,70 Úc kim và dân chúng còn lại
chỉ trả 23,10 Úc kim (27,7% giá chính phủ mua vô). Trong năm
qua chỉ riệng thuốc nầy chính phủ phải chi trả 294 triệu Úc
kim.
Chi phí
của CTTCDP tăng gấp 3 lần giá sinh hoạt vì nhiều lý do. Thứ
nhất là chi phí nghiên cứu và sản xuất các loại thuốc mới.
Nhân loại càng ngày càng tiến trong đó vấn đề an toàn được
đặt thành trọng điểm. Các loại thuốc mới thường phải được
trải qua nhiều giai đoạn thử nghiệm rất tốn kém trước khi
được Bộ Y tế chấp nhận vì nhà sản xuất lẫn chuyên viên Bộ Y
Tế đều sợ trách nhiệm. Thứ hai là bác sĩ, vì lương tâm nghề
nghiệp muốn bệnh nhân có được loại thuốc tốt nhất cũng như
vì tiếng tăm, luôn luôn cho bệnh nhân dùng các loại thuốc
đắc tiền. Bác sĩ không cân nhắc thiệt hơn vì thuốc đắc tiền
chưa hẳn là loại thuốc hữu hiệu nhất cho mọi trường hợp. Và
sau cùng là tâm lý bệnh nhân, luôn luôn muốn được dùng thuốc
tốt nhất và mới nhất.
Trong
những năm trước đây, một loại thuốc muốn được chính phủ tài
trợ phải là loại thuốc có hiệu quả cao hơn các loại thuốc
đang được tài trợ và vấn đề giá cả không phải là vấn đề then
chốt. Với gánh nặng tài chánh hiện tại của chương trình,
nguyên tắc tài trợ bị đảo lộn: giá cả trở thành chủ yếu và
chính phủ cũng đã thiết lập một số hoạt động nhằm hướng dẫn
bác sĩ cũng như bệnh nhân cách xử dụng thuốc có hiệu quả.
Trong năm
2001, chính phủ phát động một phong trào quần chúng thu hồi
và hủy bỏ các loại thuốc cũ đang được cất giữ trong các tủ
thuốc gia đình, đã tìm thấy gần 240 tấn thuốc nguy hiểm đã
quá hạn.
Riêng
trong cộng đồng Người Việt của chúng ta, có hai vấn đề cần
lưu ý. Thứ nhất là cách dùng thuốc, nhất là đối với những
người lớn tuổi. Phong cách của bác sĩ Việt Nam là cho nhiều
thuốc và những người lớn lên ở Việt Nam đã quen với lề lối
nầy. Một điều nguy hiểm là các bác sĩ trẻ Việt Nam tại Úc,
vì muốn làm vừa lòng bệnh nhân đã tự tách rời những nguyên
tắc họ đã học hỏi được, phóng tay cho toa nhiều hơn số lượng
cần thiết.. Và dĩ nhiên số thặng dư nầy, góp gió thành bão,
là một phí pham chung cho xã hội. Điểm thứ hai, nhất là
trong hai thập niên 80 và 90, chúng ta đã lạm dụng sự kiểm
soát lỏng lẻo của chính phủ, tròng tréo mua đủ loại thuốc
trong CTTCDP gởi về Việt Nam. Không mấy ai thấy lương tâm bị
cắn rứt với suy nghĩ lá lành đùm lá rách hoặc
Người Úc giàu quá, mất thêm một chút có nhằm gì. Nhưng
gian lận vẫn là gian lận. Chúng ta phải tự thay đổi lối suy
nghĩ thiển cận nầy.
Trật tự xã
hội là do từng cá nhân đóng góp. Nếu chúng ta không tự giới
hạn những phung phí trong vấn đề dùng thuốc thì một ngày nào
đó khi tốn kém vượt qua sức chịu đựng của ngân sách chánh
phủ, danh sách các loại thuốc trong Chương trình Trợ cấp
Dược phẩm có thể chỉ còn lại các loại thuốc rẻ tiền kém hiệu
quả.