|
Tự
tử - Một vấn đề cần phải đối diện
The day-to-day Issues in the Vietnamese
Community in Australia
Những ván đề thường nhật trong Cộng đồng Việt Nam tại Úc
< Back
Số thanh thiếu
niên tự tử hằng năm tại Úc nói chung và trong cộng đồng
người Việt nói riêng đã lên đến mức độ báo động. Im lặng và
xấu hổ sẽ không giúp giải quyết vấn đề. Khi trong gia đình
có một người tự tử, câu hỏi đầu tiên là tại sao? Nhưng không
ai muốn công khai thảo luận tìm hiểu nguyên do một cách
khách quan. Các vụ tự tử thường được xem là bất hạnh, không
ai muốn nhắc nhở đến, cả việc đăng cáo phó.
Theo thống kê
cho thấy trong năm 2001 có 1.935 người đàn ông tự tử, con số
nầy vượt qua cả số người tử nạn vì xe cộ. Đàn ông ở nhóm
tuổi 25 đến 34 có tỉ số cao nhất, cứ 100 ngàn người thì có
34 người tự tử, hay nói một cách khác cứ 3.000 người trong
lứa tuổi nầy thì sẽ có 1 người sẽ tự tử trong vòng 12 tháng
tới!
Khi đặt bút thảo
luận vấn đề nầy, chúng tôi rất băn khoăn sợ gợi lại niềm đau
khổ của một số gia đình. Tuy nhiên chúng tôi cũng được một
số gia đình ủng hộ cho rằng nếu sự bàn thảo dù chỉ giúp được
một người ném bỏ gói thuốc độc hay quày xe trở về với gia
đình hoặc cha mẹ anh em thông cảm thay đổi thái độ với một
thành viên trong gia đình thì quả thật rất đáng làm.
Hãy quan sát vụ
tự tử của một thanh niên Việt Nam 26 tuổi cách đây mấy tuần.
Em Z là một con cưng trong gia đình, được chìu chuộng đến
mức không làm tròn một số nhiệm vụ cơ bản của một người con,
một thành viên trong gia đình và một người công dân. Gia
đình hy vọng em Z sẽ hồi tâm qua sự giúp đỡ của một người vợ
hiền nhưng em Z không chịu dừng ở đó, quyết định bỏ người vợ
mới cưới để theo người tình vừa quen biết. Cha mẹ dĩ nhiên
không chịu và bắt đầu có thái độ cứng rắn với em Z. Bất mãn
và thất vọng, em Z nhảy xuống gầm đá tự tử.
Một vụ tự tử
khác của một nữ sinh Việt Nam Lớp 12 vào cuối năm 2002. Kết
quả thi không cao bị cha mẹ rầy la. Em đi xe lửa đến một
thành phố nhỏ, lang thang cả buổi chiều và gieo mình xuống
vực sâu tự tử.
Tất cả các vụ tự
tử đều do nạn nhân không chịu đựng nổi một áp lực nào đó
đồng thời không thấy có giải pháp để thoát khỏi áp lực đó.
Tự tử không phải
chỉ là một vấn đề cá nhân mà cũng còn là một vấn đề xã hội.
Số tai nạn xe cộ trong 10 năm qua sẽ không giảm tự nhiên nếu
không có những vận động để quần chúng ý thức nguy hiểm trong
việc lái xe quá tốc độ và lái xe với nồng độ rượu cao. Cũng
trong 10 năm qua số người nhiễm bệnh AIDS sẽ không giảm nếu
không có những cuộc bàn thảo công khai về vấn đề tình dục,
đồng tính luyến ái và các phương pháp đề phòng bệnh qua các
cuộc giao hợp, những đề tài được xem là cấm kỵ trước thập
niên 80. Và số người tự tử sẽ không tự nó giảm đi nếu chúng
ta không trực tiếp đương đầu với nó. Chúng ta không hy vọng
có thể tìm hiểu nguyên do và giải quyết mọi trường hợp nhưng
nếu sự cố gắng của chúng ta dù có cứu được một simh mạng, đó
cũng là một thành tựu.
Nguyên do, tiến
trình và hậu quả của một vụ tự tử thường rất phức tạp và
trải qua nhiều giai đoạn. Muốn giảm thiểu vấn nạn nầy đòi
hỏi cố gắng từ nhiều phía. Riêng trong cộng đồng người Việt
chúng ta những điểm quan trọng sau đây cần được quan tâm.
Với đối tượng
trẻ bậc phụ huynh phải ý thức được là khoảng xa cách với con
em không phải chỉ ở yếu tố thời gian (thế hệ) mà còn ở yếu
tố không gian (một không gian mới, một xã hội mới). Với
những người cùng thế hệ (vợ chồng, anh em, bè bạn), hoàn
cảnh xã hội mới làm một số người không hội nhập được. Lẻ loi
đưa đến thất bại và thất bại ảnh hưởng tâm lý. Thông cảm,
bao dung giúp được những người thân vượt qua những cơn khủng
hoảng tinh thần. Với bậc cha mẹ, chú bác chúng ta phải chấp
nhận một điều là không thể nào thay đổi được những suy nghĩ
tàng ẩn trong những con người đã tri thiên mệnh từ
cách ăn, lối mặc, cách suy nghĩ. Chúng ta kiên nhẫn và vui
vẻ chấp nhận dù đó là hiếu đạo hay nhân đạo.
Riêng đối với
những người muốn dứt bỏ phiền toái của cảnh đời nầy thì thực
tế luật pháp Úc không cấm cản nhưng luân lý Việt Nam cũng
như bất cứ một tôn giáo nào đều không chấp nhận tự tử. Quả
cuộc đời nầy nhiều phiền toái. Phật giáo có câu Đời là bể
khổ. Theo Thiên Chúa giáo thì Đức Chúa Trời hy sinh con
mình xuống thay tội cho tín đồ. Trong kho tàng văn hóa Việt
Nam nhan nhản những áng văn nói lên cái khổ của cuộc đời
trong đó có hai câu thơ khá quen thuộc của Nguyễn Công Trứ:
Thoát sinh ra thì đã khóc chóe
Trần có vui sao chẳng cười khì . . .
Trong cái chết
người ra đi là kẻ nhẹ nhàng nhất chỉ khổ người ở lại. Thiết
nghĩ con trùn con kiến còn muốn sống thì con người như chúng
ta, cái chết là hành động sau cùng.

< Back |