Trong dịp Giáng Sinh tôi dự một bữa cơm gia đình một người bạn
và anh tâm sự…"Bốn chữ trên kính dưới nhường là món hành
trang tôi mang theo bên mình trong suốt năm mươi năm qua. Có lúc
nó nặng như bao cát tôi cố vứt bỏ nhưng cũng có rất nhiều lúc nó
là món quà thân thương nhất của đời tôi do hai người đàn bà để lại
– Mẹ tôi và Cô Liễu, cô giáo lớp nhất trường Chợ Quán.
Tôi đầu tiên học bốn chữ nầy trong một buổi chiều mưa lê thê.
Một người chị chú bác đem cho mẹ tôi một ít bánh trong đó có mấy
cái "bánh ích nhưn đậu", món tôi ưa thích nhất trong các loại bánh
dân gian Việt Nam. Trong lúc anh tôi đang ra vườn "thăm câu", mẹ
tôi sai tôi đem bộ đồ vừa may xong cho đứa con vừa đầy tháng của
anh chị Hải, ở cách chúng tôi khoảng hai trăm thước. Xúng xính với
chiếc nón lá, bộ áo đi mưa bằng lá dừa nước và dĩ nhiên là chân
đất, nhiệm vụ giao hàng của tôi có lẽ không đầy hai mươi phút
nhưng khi trở về nhà thì mấy cái "bánh ích nhưn đậu" đã không còn
nữa. Tôi nhớ sự tức giận của mình nhưng không nhớ rõ chuyện gì đã
xảy ra sau đó ngoài việc học được hai bài học về cách xử thế: Một
là về ăn uống và hai là về nhường nhịn. Tôi như còn nghe văng vẳng
bên tai lời mẹ tôi nói:
Miếng ăn là miếng
tồi tàn
Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu
Và bài học thứ hai rất sâu xa, đó là bốn chữ trên kính dưới
nhường – "Con là đứa con giữa, trên phải kính anh, dưới phải
nhường em"!
Lên Sài Gòn, vào học trường tiểu học Chợ Quán. Người thầy giúp
tôi vượt qua những mặc cảm của một đứa học trò "nhà quê" là thầy
giáo lớp 3. Một đứa học trò ăn nói ngọng nghệu, ngày đầu đến
trường với bộ đồ bà ba trắng và đôi guốc giông sơn, được đứng thứ
nhì trong lớp cuối năm! Nhưng hình ảnh còn sâu đậm nhất trong tôi
tại trường Chợ Quán là cô Liễu dạy tôi lớp Nhất. Một trong những
bài học nhớ đời cô dạy tôi cũng là câu trên kính dưới
nhường, lập lại bài học của mẹ tôi với một câu chuyện thích
thú. Tôi không nhớ rõ do trường hợp nào cô Liễu đã kể câu chuyện
ba anh em nhà nọ, người anh thì tham lam lấy của cha mẹ làm của
mình, người em biếng nhác chỉ trông cậy vào sự giúp đỡ của cha mẹ.
Riêng người con giữa rất nghèo, trên lo cho anh, dưới nhường em và
sau cùng được một ông tiên ban cho nhiều vàng bạc, sống hạnh phúc
với vợ hiền, con ngoan.
Tôi thi đậu vào Trường Petrus Ký và tiếp tục được các thầy cô
trui đúc Trên kính Thầy, dưới nhường bạn. Hai chữ kính
nhường đã bao bọc, kìm hãm tôi. Tôi lặn ngụp trong ý niệm
kính nhường đến đỗi rất nhiều lần bạn bè, quyến thuôc cho rằng
tôi đã tự làm thiệt mình. Nhưng ở cái tuổi "tri thiên mệnh" nầy
nhiều lúc suy gẫm lại đoạn đời đã đi qua, tôi mang ơn Mẹ tôi và cô
Liễu đã dạy cho tôi hai chữ kính nhường. Cái kính nhường
đã tạo cho tôi một mối dây liên hệ thân thương trong đại gia đình
chúng tôi, đã đem đến cho tôi bao nhiêu bạn bè lấy ân tình làm gốc.
Có những người bạn cách đây ba mươi năm đã sỉ nhục tôi vì quyền
lợi cá nhân giờ đây ngồi nhắp ly trà hề hà kể lại chuyện xưa...".
Anh tâm sự tiếp "Nhưng đến bây giờ trong một số công việc chung
vẫn còn một số người trách tôi tranh danh đoạt lợi… Không biết
mình còn sống được bao nhiêu mươi năm nữa để được ngồi xuống với
những người bạn nầy uống một ly trà nhắc lại chuyện hôm nay?"
Một câu chuyện trong "Cổ học tinh hoa" ? Không, đây là một câu
chuyện thật trong trăm ngàn những câu chuyện cao đẹp của những
người Việt vẫn còn giữ được giềng mối văn hóa dân tộc. Nhiều người
đã bâng khuâng cho rằng hai chữ kính nhường đã được thay thế bằng
hai chữ "tranh đoạt" (tranh danh đoạt lợi)! Thời buổi nào cũng có
Lưu Bị! Thời buổi nào cũng có Tào Tháo!
Phạm Mai