|
Sự
trưởng thành, tầm cỡ và đặc tính của Cộng đồng Người Việt tại
Úc
Phần C – Hôn nhân
The day-to-day Issues in the Vietnamese
Community in Australia
Những ván đề thường nhật trong Cộng đồng Việt Nam tại Úc
< Back
Lời giới thiệu –
Sau hai bài nói về sự trưởng thành và các đặc
tính của Cộng đồng người Việt tại Úc, một số độc giả đề nghị
khai triển thêm về bốn yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phát triển của Cộng đồng người Việt: Hôn nhân, ly dị, sinh
và tử. Trong những bài tiếp theo, chúng tôi cố gắng tìm hiểu
thêm những dử kiện về các vấn đề nầy.
Phần C – Hôn nhân
Luật kết hôn và ly dị của nước Úc khá hoàn chỉnh, nó không
quá dễ dàng như ở Las Vagas bean Mỹ, chỉ cần một vài giờ là
có thể làm hay xé một hôn thú cũng như không quá khó khăn
như trong một số nước Á châu. Muốn kết hôn thời gian cần
đăng ký trước là một tháng. Muốn ly dị, một trong hai người
chỉ cần chứng minh là mình đã không sống chung với người
phối ngẫu trên một năm với một lý do duy nhất “hôn nhân
không thể hàn gắn được”.
Theo tài liệu của Sở Thống Kê Úc, năm 2002, trong số 105
ngàn đám cưới trên toàn nước Úc có 77 ngàn (hay 73%) cặp vợ
chồng mới cưới đã sống chung với nhau trước ngày kết hôn.
Quyền lợi và trách nhiệm giữa những cặp vợ chồng “bán chính
thức” nầy được luật pháp công nhận như những đôi vợ chồng
chính thức có hôn thú.
Trong cộng đồng Việt Nam tại Úc trong 3 năm qua (1999, 2001
và 2002) trung bình mỗi năm có 1.614 chú rể có sinh quán tại
Việt Nam kết hôn với 1.361 (84,3%) cô dâu cũng có sinh quán
tại Việt Nam, 63 cô dâu có sinh quán tại Úc và 190 cô dâu có
sinh quán tại những nước khác (Tài liệu 1). Cũng trong thời
gian nầy có 1.799 cô dâu có sinh quán tại Việt Nam kết hôn
với 1361 (75,7%) chú rể Việt Nam, 179 chú rể Úc và 259 chú
rể có sinh quán tại những nước khác (Tài liệu 2). Thống kê
nầy cho thấy phụ nữ Việt Nam dễ có khuynh hướng kết hôn với
người ngoại quốc hơn nam giới.
Bảng tài liệu1: Sinh quán của những cô dâu có chồng sinh
quán tại Việt Nam.
Chú rể có sinh quán tại Việt Nam
|
Năm |
|
Sinh quán
|
cô dâu |
|
|
|
Úc |
Việt Nam |
Nước khác |
Tổng cộng |
|
1999 |
43 |
1602 |
216 |
1861 |
|
2001 |
64 |
1229 |
184 |
1477 |
|
2002 |
81 |
1253 |
171 |
1505 |
|
Trung
bình |
3 năm
1999, |
2001 và 2002 |
|
|
| |
63 |
1361 |
190 |
1614 |
Bảng tài
liệu 2: Sinh quán của những chú rể có vợ sinh quán tại Việt
Nam.
Cô dâu có sinh quán tại Việt Nam
|
Năm |
|
Sinh quán |
chú rể |
|
| |
Úc |
Việt Nam |
Nước khác |
Tổng cộng |
|
1999 |
161 |
1602 |
260 |
2003 |
|
2001 |
166 |
1229 |
241 |
1636 |
|
2002 |
210 |
1253 |
276 |
1739 |
|
Trung
bình |
3 năm
1999, |
2001 và 2002 |
|
|
| |
179 |
1361 |
259 |
1799 |
Nếu so sánh với hôn
nhân của những dân tộc khác thì những cuộc hôn nhân của
người Việt tại Úc tương đối đồng chủng nhất. Tính trung bình
trong 2 năm 2001và 2002, về phía đàn ông, 84,3% lấy vợ có
cùng sinh quán, chỉ sau người Đại Hàn đang sống tại Úc
(83,2%) trong khi đó về phía nữ thì phụ nữ Việt Nam đứng
hàng đầu với 73,5% lấy chồng có sinh quán tại Việt Nam (Tài
liệu 3a và 3b).
Bảng tài liệu 3a và 3b: Những cuộc hôn nhân trong một số
cộng đồng Á châu tại Úc (Tính trung bình trong 2 năm 2001 và
2002), %.
Sinh quán chú rể / Sinh quán cô dâu
| |
Úc |
Cùng nước |
Nước khác |
|
Cambodia |
12.0 |
45.5 |
42.5 |
|
China |
3.7 |
77.7 |
18.6 |
|
Hong Kong |
13.1 |
40.6 |
46.3 |
|
Indonesia |
15.9 |
66.1 |
18.0 |
|
Japan |
15.5 |
72.7 |
11.8 |
|
Korea |
4.1 |
86.5 |
9.4 |
|
Laos |
14.0 |
44.4 |
41.5 |
Sinh quán cô dâu / Sinh quán chú rể
| |
Úc |
Cùng nước |
Nước khác |
|
Cambodia |
21,4 |
45.5 |
33.1 |
|
China |
20,2 |
50.4 |
29.4 |
|
Hong Kong |
23,3 |
38.8 |
37.9 |
|
Indonesia |
30,6 |
36.5 |
33.0 |
|
Japan |
47,2 |
25.4 |
27.4 |
|
Korea |
22,1 |
56.9 |
21.0 |
|
Laos |
20,8 |
37.6 |
41.6 |
Tuổi kết hôn trung
bình của người Việt tương đối thấp hơn tuổi trung bình của
cả nước Úc: Tuổi chú rể Việt Nam là 29,9 so với 31 tuổi cho
các chú rể toàn nước Úc và tuổi cô dâu Việt Nam là 27,1 so
với 28,9 tuổi cho các cô dâu Úc (Thống kê năm 2002). Bảng
tài liệu 4 chỉ sự phân phối tuổi kết hôn của các cô dâu và
chú rể có sinh quán tại Việt Nam (Trung bình Thống kê 2 năm
2002 và 2002.
Bảng tài liệu 4: Phân phối tuổi kết hôn của người có sinh
quán tại Việt Nam (Thống kê năm 2001 và 2002), %.
|
Tuổi |
Dưới 19 |
20-24 |
25-29 |
30-34 |
35-39 |
40-44 |
45-49 |
Trên 50 |
|
Nam |
2.0 |
17.1 |
34.9 |
21.8 |
11.3 |
5.7 |
3.9 |
3.4 |
Không xét đến tuổi,
45,3 phần trăm người phụ nữ Việt Nam kết hôn trong vòng 10
năm đầu đến Úc trong khi đó chỉ có 32% nam giới kết hôn
trong khoảng thời gian nầy.
Bảng Tài liệu 5: Kết hôn phân phối theo
thời gian định cư tại Úc (Thống kê năm 2002), %.
|
Năm định cư |
0-9 |
10-19 |
20-29 |
Trên 30 |
Không ghi rõ |
|
Chú rể |
32.0 |
37.7 |
24.6 |
0.3 |
5.4 |
|
Cô dâu |
45.3 |
31.0 |
17.5 |
0.2 |
5.9 |
Bảng tài liệu 6: Một số dữ kiện khác (Thống kê năm 2002)
| |
Chú rể |
Cô dâu |
|
Làm lễ tôn giáo, % 25,0
25,8 |
25.0 |
25.8 |
|
Kết hôn lần đầu, % 81,5
84,4 |
81.5 |
84.4 |
|
Góa bụa, % 0,9 1,2 |
0.9 |
1.2 |
|
Đã từng ly dị, % 17,6 14,4 |
17.6 |
14.4 |
|
Tuổi quân bình, tuổi 29,9
27,1 |
29.9 |
27.1 |
|
Thời gian ở Úc, năm 13,2
10,4 |
13.2 |
10.4 |
Hôn nhân là yếu tố
quan trọng trong quá trình phát triển cộng đồng Việt Nam và
sự hội nhập vào xã hội Úc. Tỉ lệ người Việt Nam định cư tại
Úc kết hôn với người Úc hay các chủng tộc khác còn rất thấp
so với các cộng đồng khác không phải vì cộng đồng Việt Nam
còn quá trẻ nhưng vì nhiều yếu tố khác.
Thứ nhất là cộng đồng người Việt có tầm cỡ lớn nên thanh
thiếu niên Việt Nam có nhiều cơ hội gặp gỡ nhau (sống cùng
khu phố, học cùng trường, làm cùng sở, đi nhà thờ, chùa
v.v.). Thứ hai là nhờ tầm cỡ lớn nên cộng đồng Việt Nam có
nhiều sinh hoạt cộng đồng (Lớp Việt ngữ, Hướng đạo, các đoàn
Công giáo, Phật tử, các hội sinh viên v.v.). Thứ ba là thế
hệ “một rưởi” nầy lớn lên trong hoàn cảnh đặc biệt, chứng
kiến sự hy sinh của cha mẹ nên rất vâng lời không làm buồn
lòng cha mẹ, đó là sự ao ước “kết hôn người Việt” của cha mẹ.
Số tới: Phần D: Ly dị trong cộng đồng Việt Nam
Tài liệu Tham khảo:
(1) “Người Việt Nam Tại Úc”, T. Mai-Viet,
www.VietnameseInAustralia.com.au
<http://www.VietnameseInAustralia.com.au>, 2002.
(2) Tất cả các dữ kiện trong bài nầy lấy từ các tài liệu của
Australian Bureau of Statistics.
Phạm Mai

< Back |